Chuyển đến nội dung chính

SẮC MÀU TINH HOA TỪ HOA VĂN GỐM CHU ĐẬU

Ít ai biết được rằng, gốm Chu đậu là loại gốm cổ bậc nhất nổi tiếng về những dòng hoa văn trang trí ĐỘC – ĐẸP – LẠ MẮT, những người nghệ nhân nơi đây nổi tiếng về tay nghề mỹ thuật tinh xảo của mình. Họ luôn cho ra đời những sản phẩm với cách trang trí họa tiết lên mặt gốm một nét tinh xảo lạ kỳ. Bên cạnh đó, để có được trứ danh này, tại làng gốm Chu Đậu đã có những phương pháp làm gốm bật nhất mà những nơi khác khó mà bắt chước được. Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu phương pháp làm gốm độc đáo – chỉ duy nhất có tại làng Chu Đậu.

Men gốm
   Men gốm Chu Ðậu rất phong phú: như men ngọc (celadon), men nâu, men trắng, men lục. Tuy nhiên tiêu biểu nhất là men trắng trong với hoa văn màu xanh (men trắng chàm) và men trắng trong với hoa văn ba màu vàng, đỏ nâu và xanh lục (men tam thái). Men ngọc, men trắng, men nâu và men nâu đen thường bị lẫn với đồ gốm đời Lý Trần, tuy nhiên, hoa văn trên men Lý nhiều ảnh hưởng Phật giáo, hoa văn Chu Ðậu phản ảnh đời sống nông thôn Việt Nam, hoa văn trên men Lý thường được vẽ bằng cách khắc chìm hay khắc nổi, hoa văn Chu Ðậu được vẽ bằng men màu.
   Các bát đĩa đời Lý thường còn dấu con kê rõ ràng; đồ gốm Chu Ðậu khéo hơn, dấu con kê không còn nữa. Ðáy các chén đĩa thời Lý thường để trơ đất mộc, đáy của đồ gốm Chu Ðậu thường được quét một lớp son nâu, màu đậm, thường khi vẫn còn nguyên dấu bút. Lớp son nâu này không phải là men, mà chỉ là một lớp son pha màu nâu rất mỏng để bảo vệ đáy chén đĩa. Ðây cũng là những đặc điểm phân biệt đồ gốm ta và đồ gốm Tàu. Gốm Tàu không bao giờ để trơ đất mộc, hay quét son nâu, cũng không có dấu con kê. Con kê là một kỹ thuật hoàn toàn Việt Nam. Kỹ thuật này dù làm cho món đồ kém đi chút phẩm chất, nhưng lại là một phát kiến riêng của người thợ Việt Nam, nhằm tránh cho chén đĩa không bị dính vào nhau khi nung mà lại tiết kiệm được diện tích lò.
Ảnh 1. Hoa văn đặc sắc trên bát ở làng gốm Chu Đậu

   Men trắng chàm và men tam thái nổi danh và được ưa chuộng hơn cả. Men trắng chàm (nền men trắng, hoa văn màu xanh biếc) chiếm số lượng cao nhất. Các món đồ vớt được ở ngoài khơi Ðà Nẵng – Hội An cũng đều là men trắng chàm. Do đó, khi nói về đồ gốm Chu Ðậu, người ta chỉ thường biết về loại này mà ít để ý đến các loại men khác. Loại đồ gốm Chu Ðậu hạng nhất này nhiều món đẹp tuyệt vời, bứt xa đồ nhà Minh, và đẹp không kém gì đồ gốm men lam của nhà Thanh bên Tàu.
   Tuyệt vời nhất là hoa văn trên men trắng chàm và men tam thái, hình ảnh thuần túy Việt Nam. Họ vẽ tàu lá chuối, nhánh rong, chim sẻ, chim chích chòe, tôm, cá bống, cóc, rùa, cọng rau muống, bông hoa cúc, hoa sen. Cũng như các bình ấm Việt Nam đời trước, thảng hoặc lắm ta mới thấy một vài bình, ấm thời Chu Ðậu có quai cầm, còn ngoài ra, nơi quai cầm chỉ là một vật trang trí như con rùa, con cá, bông sen… như đồ gốm Việt Nam các thời trước.
Loại hình, kiểu dáng và hoa văn trang trí trên gốm Chu Đậu
   Hình dạng đồ gốm Chu Ðậu thật phong phú: Bát chân cao, bát chân thấp, tô, đĩa, chén, tước, bình, ấm, âu, chậu, lu, hũ, bát hương, bát trầm, chân đèn, hộp, lọ, bình vôi, nghiên mực, có cả nghiên mực hình con trâu, con cua, rồi lại còn đồ chơi của trẻ em như các hình tượng con gà, con cóc, con lợn, người cưỡi ngựa…, từ các món đồ dùng trong nhà người dân, trong đình chùa, trong nhà giới trưởng giả, cho đến đồ xuất cảng…
   Nhưng xem đồ gốm Chu Ðậu mà bỏ qua bình tỳ bà thì thật uổng. Ngoài các cuộc khai quật ở các lò gốm cũ ở làng Chu Ðậu, loại bình này thường được tìm thấy từ các tàu buôn đắm ngoài khơi Hội An – Ðà Nẵng. Như tên gọi, bình tỳ bà có hình dáng giống cây đàn tỳ bà để dựng đứng. Mình thuôn tròn, cổ nhỏ, miệng loe, thân tròn phình to, thường có bốn tầng hoa văn, trong lòng miệng bình cũng có hình vẽ hoa lá. Tầng thứ nhất ở chung quanh cổ bình hoặc vẽ những tàu lá chuối hay hình cây lúa; tầng thứ hai khi hình hoa cúc, hoa mẫu đơn, khi thì những chuỗi hình xoắn ốc đứng; tầng thứ ba lớn nhất là hình chim chích choè, chim sẻ hay là những ô vẽ đợt sóng biển, bên cạnh những ô vẽ hình hoa lá; tầng dưới cùng là các ô với những vòng tròn hình bầu dục chồng lên nhau.
Ảnh 2. Đỉnh cao của nghệ thuật hoa văn trên gốm tại Chu Đậu

   Tước (hay bôi) là ly uống rượu chân cao. Ngoài những tước men ngọc, màu xanh trong, còn có những sáng kiến kỳ diệu như tước thần kim quy. Ẩn trong chân tước này là một quả nổi để lộ hình rùa thần kim quy ngồi dưới đáy, khi rượu được rót vào, thì hình thần kim quy từ từ nổi lên theo mực rượu trong lòng tước.
   Ðĩa Chu Ðậu rất đẹp, men trắng trong với hoa văn màu chàm. Có những đĩa tam thái rất lớn, đường kính đến khoảng 50cm, nhưng thường thường thì vào khoảng hơn 25cm đường kính. Hoa văn trong lòng đĩa thường gồm hai phần. Vành đĩa rộng 5cm, vẽ cành rau, nhánh lá, tâm đĩa vẽ nhiều hình rất đẹp: Hình con công, con vạc, con nghê, cá chép vượt vũ môn, hươu chạy trên đồng cỏ, bên khóm trúc, bờ lúa, đôi chích chòe, đàn vịt bơi trên hồ sen, trận thủy chiến, cành mai, đóa cúc, đóa mẫu đơn… đường kính độ 15cm. Vành ngoài thành đĩa cũng vẽ những hình hoa lá rất chi tiết, hoa văn màu xanh chàm, đĩa lớn thường là men ba màu (Tam Thái). Cùng với bình tỳ bà và bát Chu Ðậu, đĩa Chu Ðậu là những món đẹp và nổi tiếng, được rất nhiều viện bảo tàng và nhà sưu tập quốc tế ưa chuộng.
Ảnh 3. Nghệ nhân miệt mài trang trí những đường nét hoa văn tuyệt mỹ trên gốm

Nhìn vào những hình ảnh hoa văn trên đồ gốm Chu Đậu, chúng ta có thể thấy được những nghệ sĩ tài hoa nơi đây đã khắc họa những nét họa tiết đậm chất thuần Việt. Trên những lọ hoa, và những cái bát đơn giản cho những bữa ăn hằng ngày khắc họa rõ nét những hình ảnh đời sống hằng ngày dân dã của làng quê đất Việt, những buổi trưa hè người nông dân đang miệt mài đi chăn trâu, cắt cỏ, và làm ruộng, những đứa trẻ thì nô đùa với nhau trong làng, những tiếng cười đùa trò chuyện của những người nông dân sau một ngày đi làm đầy mệt mỏi chiều tối đến tại tụ họp ngay làng… Điều đáng quý nhất mà những người tài hoa gốm Chu Đậu đã mang đến cho chúng ta đó là những sản phẩm với những nét hoa văn ĐẦY TÍNH THUẦN VIỆT, nhưng được vẽ với đầy nhiệt quyết, biết bao công sức cho ra đời những đường nét tinh túy, rõ nét, khắc họa chân thực không kém phần sống động về nét đặc sắc ở Đại Việt.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT GỐM THỜI LÝ- TRẦN

Ngày xưa, nước Đại Việt ta nổi tiếng về gốm sứ, các làng làm gốm sứ cũng từ từ mọc lên và trở thành như một truyền thống của dân tộc. Nhưng ít ai biết được, trong thời kỳ xưa khó khan ở nước Nam ta, mặc dù cái nghề gốm này vẫn còn rất cổ và mộc mạc, nhưng vào 1 giai đoạn, nghề gốm này được phát triển vượt bật tối tân nhất, giai đoạn thời Lý – Trần, còn được gọi là thời kỳ VÀNG của gốm sứ Việt Nam. Cái thời kỳ thăng hoa nhất trong lịch sử gốm sứ Việt Nam, không thể không nhắc đến đó là thời đại này. Tại vì sao mà khi nhắc đến gốm sứ, dân tộc ta liền nhớ ngay đến thời kỳ VÀNG này? Đó là vì, theo nghiên cứu cho đến ngày nay, chưa bao giờ có thời điểm nào mà gốm sứ Đại Nam phát triển một cách dữ dội như ở thời Lý-Trần. Một thời gian vô cùng dài cho giai đoạn này, 2 thời kỳ này kéo dài gần 400 năm, mặc dù mỗi thời kỳ là một phong cách riêng biệt, một tư duy nghệ thuật đặc trưng cho mỗi thời, nhưng có lẽ cách thức phương pháp kỹ thuật làm gốm đều có những điểm chung giống nhau. Nếu như ...

Xóm lò gốm Sài Gòn xưa

Từ đầu thế kỷ 20, khu vực đô thị hóa Sài Gòn - Chợ Lớn khá nhanh, làng Lò Gốm nơi đây dần thua kém so với gốm Biên Hòa và Lái Thiêu . Năm 1903, Trường Mỹ thuật Biên Hòa được thành lập (nay là Trường Cao đẳng Mỹ thuật và Trang trí Đồng Nai). Ban đầu gốm sứ Biên Hòa được lát bằng men Pháp, nhưng người phương tây tráng trên đồ gốm phương Đông thì không phù hợp, vì vậy bà Marie đã thành lập một nhóm nghiên cứu men mới, chỉ có nguyên liệu thô ở những vùng như đất sét Bình Phước, đá trắng An Giang, tro rôm, tro củi, vỏ trấu và tro trấu, khảm bằng đồng, đá đỏ (đá Biên Hòa) và bột coban để lên men màu; Tạo màu sắc độc đáo cho gốm Biên Hòa: men xanh của Biên Hòa Thời kỳ phát triển rực rỡ của gốm mỹ nghệ Biên Hòa từ năm 1923 đến đầu những năm 1960. Nhiều lần, gốm sứ Biên Hòa trưng bày tại triển lãm quốc tế về nghệ thuật trang trí năm 1925, 1932, 1934, 1938, 1942 tại Paris (Pháp), Nhật Bản, Indonesia, Hà Nội và Sài Gòn, hội chợ đã rất thành công và các nhà tổ chức đã trao vàng Huy chương, bằng ...

Khắc họa họa tiết hoa văn trên gốm

Đôi khi những nét hoa văn trang trí có những ý nghĩa riêng của nó, đôi khi nó chỉ là trang trí. Nhiều hoa văn được sử dụng ngày nay là sự thích ứng trang trí của các hình dạng cụ thể mà từng có ý nghĩa đối với cả nhà sản xuất và người sử dụng. Như Susan Meller và Joost Elffers đã viết về Thiết kế Dệt may: Hai trăm năm Mẫu Châu Âu và Hoa Kỳ, các mẫu có ý nghĩa cụ thể khi khởi sự sau đó đi qua các nền văn hoá và phương pháp họa khác nhau. Khi không sử dụng, họ trở lại kho lưu trữ, chỉ để được luân hồi ở một nơi mới hoặc trong một phong cách mới, như cô giải thích "... như thể ý nghĩ của Carl [Jung của tập thể vô thức đã được thực hiện theo nghĩa đen trong này Lưu trữ hình dạng. " Những nét vẽ hoa văn đòi hỏi sự tinh tế tuyệt đối  Phỏng vấn từ một nghệ nhân chuyên trang trí hoa văn trên gốm “ Khi sử dụng mẫu như trang trí trong tác phẩm của tôi, tôi chọn loại rất chung chung, chẳng hạn như lặp lại các đường nét tạo sự liên tiếp, hoặc chỉ sử dụng một phần mẫu truyền th...