Chuyển đến nội dung chính

Giải cứu sự hiểu lầm đáng tiếc về gốm Chu Đậu trong lịch sử

Trong bộ sưu tập của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, có một vật cổ khá ấn tượng và đẹp. Đây là một cặp bình bằng sứ cobalt Trung Quốc. Nó có thể nhắc nhở chúng ta rằng các đồ vật đã được làm cho những người giàu có trong thời phong kiến. Tuy nhiên, đây là nơi cất giấu tài liệu bí mật được gửi từ Hải Phòng về nước cho Đảng (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) vào năm 1932. Bình là một số ý tưởng liên quan đến cuộc cách mạng của Nguyễn Lương Bằng, nhà tiên phong Và sự lãnh đạo của ĐCSVN.. Có thể nói gốm sứ Việt đã có từ lâu đời và nó đặc trưng cho nền nghệ thuật của Việt Nam. Bên cạnh đó có nhiều câu hỏi được đặt ra như “ gốm Chu Đậu có thật là của Việt Nam hay không?

Giải oan cho gốm Chu Đậu

Gốm cổ trong dòng chảy phát triển, quá trình tìm kiếm và cả những câu chuyện thật giả  có một sức hút lạ kỳ với người yêu gốm. Là một trong những chuyên gia đầu ngành về gốm và cổ vật, TS Nguyễn Đình Chiến, nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đã chia sẻ những quan điểm về gốm trong dòng chảy đương đại thông qua những chuyến thực địa của ông trong nhiều năm lăn lộn, trải nghề.

Ở mỗi thời kỳ, những hoa văn, chất liệu và tạo hình chính là đặc điểm để gốm Việt tự kể câu chuyện về thời đại của chúng. Thời Lý-Trần (thế kỷ XI-XIV) ghi dấu ấn với dòng gốm men trắng, men ngọc, men hoa nâu, men lục và đặc biệt cuối thế kỷ XIV xuất hiện dòng gốm hoa lam. Từ thế kỷ XVI kéo dài đến niên hiệu Vua Gia Long đầu thế kỷ XVIII có dòng gốm men rạn Bát Tràng…
Và cùng với dòng lịch sử đó, PGS.TS Nguyễn Đình Chiến đã dùng gốm là phương tiện khám phá quá khứ, coi đó là phương thức để tìm câu trả lời cho những vấn đề mang tính thời đại. Là một nhà khoa học, ông trân quý gốm như là thành tựu của quá khứ và với ông, gốm đã góp phần tạo nên quá khứ. 

Ảnh 1. Các sản phẩm gốm cổ được khai quật tại làng Chu Đậu 

Trong lịch sử, gốm Chu Đậu Việt Nam đã từng bị hiểu lầm một cách đầy oan ức là gốm Trung Quốc. Cho đến khi được các nhà nghiên cứu chuyên sâu phát hiện và ra tay “giải cứu”, gốm Việt mới được “minh oan”, trong số đó có PGS.TS  Nguyễn Đình Chiến.
Những năm 80, 90 thế kỉ trước, Chu Đậu (Hải Dương) vẫn được coi là làng nghề sản xuất chiếu, cói, không ai biết đây đã từng là một làng nghề gốm đặc sắc. Cho đến khi có một số người đi tìm hiểu, khi ngồi nghỉ ở một bờ ao trong làng thì bị trượt chân phải bám vào vách đất. Không ngờ vách đất lở ra để lộ rất nhiều sản phẩm gốm cổ đã bị chôn vùi từ rất lâu. 
Sau khi nghiên cứu, nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hải Dương cho rằng nơi này rất có thể ngày xưa đã từng là một làng nghề gốm thủ công. Đến năm 1986, việc khai quật được tiến hành. 

Khi khai quật, người ta đã phát hiện ra hàng ngàn cổ vật gốm vô giá ở dưới độ sâu khoảng 2m. Từ đó đến năm 1991, nhiều cuộc khai quật nữa đã lại được tiến hành và rất nhiều những sản phẩm gốm độc đáo, đặc sắc tiếp tục được tìm thấy. Đến khi đó người dân Chu Đậu mới biết rằng từ xa xưa, trên vùng đất này đã hình thành nên một thương hiệu gốm cổ nổi tiếng. 
Trong tư liệu nghiên cứu của nhiều nhà sử học, trước đây Chu Đậu là làng sản xuất gốm đại trà, nhưng sau đó do cuộc chiến Lê  Mạc, cả làng bị san phẳng và nghề gốm ở nơi đây đã bị thất truyền. 
Nói tóm lại, gốm Chu Đậu là gốm đã hình thành từ rất xưa và được gọi là làng gốm cổ của Việt Nam, nó đích thực là gốm Việt Nam vì theo như kỹ thuật và mỹ thuật làm gốm của người Việt rất khác so với người Trung Quốc, đó là lí do không thể nói gốm Chu Đậu là của Trung Quốc được. Gốm Trung Quốc có một nét đặc biệt là hoa văn rất tinh xảo và lạ, nhìn sẽ biết nó khác với hoa văn Việt Nam. Đến thời điểm hiện tại, nhiều người nhìn vào gốm Chu Đậu cứ nghĩ là gốm Trung Quốc nhưng thật sự nghệ nhân tại Chu Đậu đã đạt đến trình độ nghệ thuật tinh xảo hoa văn như thế rồi.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT GỐM THỜI LÝ- TRẦN

Ngày xưa, nước Đại Việt ta nổi tiếng về gốm sứ, các làng làm gốm sứ cũng từ từ mọc lên và trở thành như một truyền thống của dân tộc. Nhưng ít ai biết được, trong thời kỳ xưa khó khan ở nước Nam ta, mặc dù cái nghề gốm này vẫn còn rất cổ và mộc mạc, nhưng vào 1 giai đoạn, nghề gốm này được phát triển vượt bật tối tân nhất, giai đoạn thời Lý – Trần, còn được gọi là thời kỳ VÀNG của gốm sứ Việt Nam. Cái thời kỳ thăng hoa nhất trong lịch sử gốm sứ Việt Nam, không thể không nhắc đến đó là thời đại này. Tại vì sao mà khi nhắc đến gốm sứ, dân tộc ta liền nhớ ngay đến thời kỳ VÀNG này? Đó là vì, theo nghiên cứu cho đến ngày nay, chưa bao giờ có thời điểm nào mà gốm sứ Đại Nam phát triển một cách dữ dội như ở thời Lý-Trần. Một thời gian vô cùng dài cho giai đoạn này, 2 thời kỳ này kéo dài gần 400 năm, mặc dù mỗi thời kỳ là một phong cách riêng biệt, một tư duy nghệ thuật đặc trưng cho mỗi thời, nhưng có lẽ cách thức phương pháp kỹ thuật làm gốm đều có những điểm chung giống nhau. Nếu như ...

Xóm lò gốm Sài Gòn xưa

Từ đầu thế kỷ 20, khu vực đô thị hóa Sài Gòn - Chợ Lớn khá nhanh, làng Lò Gốm nơi đây dần thua kém so với gốm Biên Hòa và Lái Thiêu . Năm 1903, Trường Mỹ thuật Biên Hòa được thành lập (nay là Trường Cao đẳng Mỹ thuật và Trang trí Đồng Nai). Ban đầu gốm sứ Biên Hòa được lát bằng men Pháp, nhưng người phương tây tráng trên đồ gốm phương Đông thì không phù hợp, vì vậy bà Marie đã thành lập một nhóm nghiên cứu men mới, chỉ có nguyên liệu thô ở những vùng như đất sét Bình Phước, đá trắng An Giang, tro rôm, tro củi, vỏ trấu và tro trấu, khảm bằng đồng, đá đỏ (đá Biên Hòa) và bột coban để lên men màu; Tạo màu sắc độc đáo cho gốm Biên Hòa: men xanh của Biên Hòa Thời kỳ phát triển rực rỡ của gốm mỹ nghệ Biên Hòa từ năm 1923 đến đầu những năm 1960. Nhiều lần, gốm sứ Biên Hòa trưng bày tại triển lãm quốc tế về nghệ thuật trang trí năm 1925, 1932, 1934, 1938, 1942 tại Paris (Pháp), Nhật Bản, Indonesia, Hà Nội và Sài Gòn, hội chợ đã rất thành công và các nhà tổ chức đã trao vàng Huy chương, bằng ...

Khắc họa họa tiết hoa văn trên gốm

Đôi khi những nét hoa văn trang trí có những ý nghĩa riêng của nó, đôi khi nó chỉ là trang trí. Nhiều hoa văn được sử dụng ngày nay là sự thích ứng trang trí của các hình dạng cụ thể mà từng có ý nghĩa đối với cả nhà sản xuất và người sử dụng. Như Susan Meller và Joost Elffers đã viết về Thiết kế Dệt may: Hai trăm năm Mẫu Châu Âu và Hoa Kỳ, các mẫu có ý nghĩa cụ thể khi khởi sự sau đó đi qua các nền văn hoá và phương pháp họa khác nhau. Khi không sử dụng, họ trở lại kho lưu trữ, chỉ để được luân hồi ở một nơi mới hoặc trong một phong cách mới, như cô giải thích "... như thể ý nghĩ của Carl [Jung của tập thể vô thức đã được thực hiện theo nghĩa đen trong này Lưu trữ hình dạng. " Những nét vẽ hoa văn đòi hỏi sự tinh tế tuyệt đối  Phỏng vấn từ một nghệ nhân chuyên trang trí hoa văn trên gốm “ Khi sử dụng mẫu như trang trí trong tác phẩm của tôi, tôi chọn loại rất chung chung, chẳng hạn như lặp lại các đường nét tạo sự liên tiếp, hoặc chỉ sử dụng một phần mẫu truyền th...